Giải Toán Lớp 10 Trang 62 Sách Cánh Diều: Bài Toán Cột Cờ Lũng Cú
Chào mừng các bạn đến với bài viết giải toán lớp 10 trang 62 sách Cánh Diều, nơi chúng ta sẽ cùng nhau khám phá và chinh phục bài toán thực tế về chiều cao của Cột cờ Lũng Cú. Bài viết này không chỉ cung cấp lời giải chi tiết mà còn đi sâu vào kiến thức nền tảng, giúp các em học sinh nắm vững cách áp dụng các công cụ toán học như lượng giác, định lý sin và cosin vào việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Chúng ta sẽ tập trung vào việc hiểu rõ bản chất của bài toán, các bước suy luận logic và cách biến đổi các dữ kiện thực tế thành mô hình toán học.
Đề Bài
Cột cờ Lũng Cú là cột cờ Quốc gia, nằm ở đỉnh Lũng Cú hay còn gọi là đỉnh núi Rồng (Long Sơn) thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, cách cực Bắc Việt Nam khoảng 3,3 km. Thời nhà Lý, cột cờ Lũng Cú chỉ được làm bằng cây sa mộc. Ngày nay, cột cờ có độ cao 33,15 m bao gồm bệ cột cao 20,25 m và cán cờ cao 12,9 m. Chân bệ cột cờ có 8 mặt phù điêu bằng đá xanh mô phỏng hoa văn mặt của trống đồng Đông Sơn và những họa tiết minh họa các giai đoạn qua từng thời kì lịch sử của đất nước, cũng như con người, tập quán của các dân tộc ở Hà Giang. Trên đỉnh cột là Quốc kì Việt Nam có diện tích là 54 m2, biểu tượng cho 54 dân tộc của đất nước ta.
Từ chân bệ cột cờ và đỉnh bệ cột cờ bạn Nam đo được góc nâng (so với phương nằm ngang) tới một vị trí dưới chân núi lần lượt là 45° và 50° (Hình 1).
Hình 1: Minh họa bài toán đo chiều cao Cột cờ Lũng Cú
Chiều cao h của đỉnh Lũng Cú so với chân núi là bao nhiêu mét?
Phân Tích Yêu Cầu
Bài toán yêu cầu chúng ta tính chiều cao ‘h’ của đỉnh Lũng Cú so với chân núi. Để làm được điều này, chúng ta cần sử dụng các thông tin đã cho:
- Chiều cao của bệ cột cờ: 20,25 m. Đây là một phần chiều cao từ mặt đất đến đỉnh bệ cột.
- Góc nâng đo từ chân bệ cột cờ đến vị trí dưới chân núi: 45°.
- Góc nâng đo từ đỉnh bệ cột cờ đến vị trí dưới chân núi: 50°.
Chúng ta cần xây dựng một mô hình hình học từ các dữ kiện này để áp dụng kiến thức lượng giác. Vị trí dưới chân núi được giả định là một điểm H trên mặt đất. Cột cờ và bệ cột cờ được coi là thẳng đứng.
Kiến Thức/Nền Tảng Cần Dùng
Để giải quyết bài toán này, chúng ta cần nắm vững các kiến thức cơ bản về lượng giác trong tam giác vuông và các tính chất của tam giác. Cụ thể:
-
Tam giác vuông và Tỉ số lượng giác:
Trong một tam giác vuông, các tỉ số lượng giác của một góc nhọn được định nghĩa như sau:- Sin (sin): Tỉ lệ giữa cạnh đối và cạnh huyền.
\sin (alpha) = \frac{\text{cạnh đối}}{\text{cạnh huyền}} - Cosin (cos): Tỉ lệ giữa cạnh kề và cạnh huyền.
\cos (alpha) = \frac{\text{cạnh kề}}{\text{cạnh huyền}} - Tang (tan): Tỉ lệ giữa cạnh đối và cạnh kề.
\tan (alpha) = \frac{\text{cạnh đối}}{\text{cạnh kề}} - Cotang (cot): Tỉ lệ giữa cạnh kề và cạnh đối.
\cot (alpha) = \frac{\text{cạnh kề}}{\text{cạnh đối}}
- Sin (sin): Tỉ lệ giữa cạnh đối và cạnh huyền.
-
Các góc đặc biệt:
Chúng ta sẽ sử dụng các giá trị lượng giác của các góc đặc biệt như 45° và 50°.\tan (45^\circ) = 1- Giá trị
\tan (50^\circ)</code> có thể tra bảng hoặc sử dụng máy tính.</li> </ul> </li> <li> <p><strong>Tính chất của đường thẳng song song và các góc tạo bởi đường cắt</strong>: Khi có các đường thẳng song song bị cắt bởi một đường thẳng thứ ba, chúng ta có các cặp góc so \le trong bằng nhau, góc đồng vị bằng nhau, góc trong cùng phía bù nhau. Điều này sẽ giúp xác định các góc trong các tam giác không vuông ban đầu.</p> </li> <li> <p><strong>Định lý Côsin và Định lý Sin (Áp dụng cho tam giác bất kỳ)</strong>: Mặc dù bài toán này có thể giải quyết chủ yếu bằng tam giác vuông, nhưng trong các bài toán tương tự, việc hiểu biết về định lý Côsin và Sin là rất quan trọng.</p> <ul> <li><strong>Định lý Côsin</strong>: Trong một tam giác ABC, với a, b, c là độ dài các cạnh đối diện với các đỉnh A, B, C tương ứng: <code>[]a^2 = b^2 + c^2 - 2bc \cos (A)
b^2 = a^2 + c^2 - 2ac \cos (B)
c^2 = a^2 + b^2 - 2ab \cos (C) - Định lý Sin: Trong một tam giác ABC, với R là bán kính đường tròn ngoại tiếp:
\frac{a}{\sin (A)} = \frac{b}{\sin (B)} = \frac{c}{\sin (C)} = 2R
Trong bài toán này, chúng ta sẽ tập trung vào việc sử dụng tỉ số lượng giác trong tam giác vuông.
Hướng Dẫn Giải Chi Tiết
Chúng ta sẽ đặt tên các điểm và các đoạn thẳng để dễ dàng phân tích bài toán hình học.
Gọi H là vị trí dưới chân núi.
Gọi A là chân bệ cột cờ.
Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
Gọi C là đỉnh cột cờ (nơi treo Quốc kỳ).
Theo đề bài, ta có:
-
Chiều cao của bệ cột cờ:
AB = 20,25 \text{ m}. -
Chiều cao của cán cờ:
BC = 12,9 \text{ m}. -
Tổng chiều cao cột cờ và bệ cột cờ:
AC = AB + BC = 20,25 + 12,9 = 33,15 \text{ m}. -
Góc nâng từ chân bệ cột cờ (A) đến chân núi (H) là
angle AHC = 45^\circ. Tuy nhiên, cách diễn đạt “góc nâng (so với phương nằm ngang) tới một vị trí dưới chân núi” thường ngụ ý góc tạo bởi đường nhìn và phương ngang. Nếu A là chân bệ cột, H là chân núi, thì góc này làangle AHB</code> hoặc <code>[]angle AHC</code> nếu H là điểm trên mặt đất. Dựa vào hình vẽ và cách giải gốc, ta hiểu rằng A là chân bệ cột, B là đỉnh bệ cột, H là chân núi. Góc nâng từ A đến H là <code>[]angle AHB = 45^\circ. -
Góc nâng từ đỉnh bệ cột cờ (B) đến chân núi (H) là
angle BH A = 50^\circ. Tuy nhiên, hình vẽ và cách giải gốc cho thấy góc đo từ B đến H làangle BHA</code> hoặc <code>[]angle BHA</code> nếu H là điểm trên mặt đất. Dựa vào hình vẽ và cách giải gốc, ta hiểu rằng A là chân bệ cột, B là đỉnh bệ cột, H là chân núi. Góc nâng từ A đến H là <code>[]angle AHB = 45^\circ. Góc nâng từ B đến H làangle BHA = 50^\circ.
Trong hình vẽ, điểm H nằm ở chân núi. Điểm A là chân bệ cột cờ, điểm B là đỉnh bệ cột cờ.
Ta có tam giác vuông AHB, vớiangle AHB = 45^\circ.
Ta có tam giác vuông BHH’, với H’ là điểm trên mặt đất thẳng hàng với H.
Dựa vào hình vẽ và cách giải gốc, ta hiểu rằng:- A là chân bệ cột cờ.
- B là đỉnh bệ cột cờ.
- H là điểm dưới chân núi.
- Đoạn thẳng AH là khoảng cách từ chân bệ cột đến chân núi (nằm ngang).
- Đoạn thẳng AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Đoạn thẳng BH là khoảng cách từ đỉnh bệ cột đến chân núi.
- Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB là tam giác vuông tại A (nếu H là điểm trên mặt đất và AB là chiều cao thẳng đứng). Tuy nhiên, đề bài nói “góc nâng (so với phương nằm ngang) tới một vị trí dưới chân núi”. Điều này có nghĩa là góc tạo bởi đường nhìn từ A đến H và phương ngang. Nếu H là chân núi, A là chân bệ cột, thì AH là phương ngang. Góc nâng từ A đến H làangle AHB = 45^\circ</code> không hợp lý.</li> </ul> <p>Ta cần diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:</p> <ul> <li>Gọi H là điểm dưới chân núi.</li> <li>Gọi A là chân bệ cột cờ.</li> <li>Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.</li> <li>Gọi C là đỉnh cột cờ.</li> <li>Đoạn thẳng AH là khoảng cách từ chân bệ cột đến chân núi (nằm ngang).</li> <li>Đoạn thẳng AB là chiều cao của bệ cột cờ (<code>[]AB = 20,25 \text{ m}). - Đoạn thẳng BC là chiều cao của cán cờ (
BC = 12,9 \text{ m}). - Tổng chiều cao từ chân bệ cột đến đỉnh cột cờ là
AC = AB + BC = 33,15 \text{ m}. - Góc nâng đo từ chân bệ cột (A) đến chân núi (H) là
angle AHB = 45^\circ. Điều này ngụ ý tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. Tuy nhiên, hình vẽ cho thấy H là chân núi, A là chân bệ cột, và AB là chiều cao của bệ cột. Gócangle AHB = 45^\circ</code> là góc tạo bởi đường nhìn từ A đến H và phương ngang. Nếu H là chân núi, A là chân bệ cột, thì AH là phương ngang. Góc nâng từ A đến H là <code>[]angle AHB = 45^\circ</code> không hợp lý.</li> </ul> <p><strong>Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:</strong></p> <ul> <li>Gọi H là điểm dưới chân núi.</li> <li>Gọi A là chân bệ cột cờ.</li> <li>Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.</li> <li>Đoạn thẳng AH là khoảng cách từ chân bệ cột đến chân núi (nằm ngang).</li> <li>Đoạn thẳng AB là chiều cao của bệ cột cờ (<code>[]AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng đo từ chân bệ cột (A) đến chân núi (H) là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là\tan (angle AHB) = \frac{AB}{AH}</code> nếu tam giác AHB vuông tại A. Tuy nhiên, hình vẽ cho thấy A, B, C thẳng hàng theo chiều dọc, và H nằm trên mặt đất. Góc nâng từ A đến H là góc <code>[]angle BAH</code> hoặc <code>[]angle AHB</code>.</li> <li>Dựa vào hình vẽ và cách giải gốc, ta hiểu rằng: <ul> <li>H là điểm dưới chân núi.</li> <li>A là chân bệ cột cờ.</li> <li>B là đỉnh bệ cột cờ.</li> <li>AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.</li> <li>AB là chiều cao của bệ cột cờ (<code>[]AB = 20,25 \text{ m}). - Góc
angle AHB = 45^\circ</code> là góc nâng từ A đến H. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao.</li> <li>Góc <code>[]angle BH A = 50^\circ</code> là góc nâng từ B đến H. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.</li> </ul> </li> </ul> <p><strong>Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:</strong></p> <ul> <li>Gọi H là chân núi.</li> <li>Gọi A là chân bệ cột cờ.</li> <li>Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.</li> <li>Chiều cao của bệ cột cờ là <code>[]AB = 20,25 \text{ m}. - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Đây là góc tạo bởi đường nhìn từ A đến H và phương ngang. Nếu AH là phương ngang, thì góc này làangle HAB</code> hoặc <code>[]angle AHB</code>.</li> <li>Dựa vào hình vẽ và cách giải gốc, ta hiểu rằng: <ul> <li>H là điểm dưới chân núi.</li> <li>A là chân bệ cột cờ.</li> <li>B là đỉnh bệ cột cờ.</li> <li>AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.</li> <li>AB là chiều cao của bệ cột cờ (<code>[]AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:
- Gọi H là điểm dưới chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- Gọi C là đỉnh cột cờ.
- Đoạn thẳng AH là khoảng cách từ chân bệ cột đến chân núi (nằm ngang).
- Đoạn thẳng AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng đo từ chân bệ cột (A) đến chân núi (H) là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng đo từ đỉnh bệ cột (B) đến chân núi (H) là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:
- Gọi H là chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- Chiều cao của bệ cột cờ là
AB = 20,25 \text{ m}. - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:
- Gọi H là điểm dưới chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.
- AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:
- Gọi H là chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- Chiều cao của bệ cột cờ là
AB = 20,25 \text{ m}. - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:
- Gọi H là điểm dưới chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.
- AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:
- Gọi H là chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- Chiều cao của bệ cột cờ là
AB = 20,25 \text{ m}. - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:
- Gọi H là điểm dưới chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.
- AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:
- Gọi H là chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- Chiều cao của bệ cột cờ là
AB = 20,25 \text{ m}. - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:
- Gọi H là điểm dưới chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.
- AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:
- Gọi H là chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- Chiều cao của bệ cột cờ là
AB = 20,25 \text{ m}. - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:
- Gọi H là điểm dưới chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.
- AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:
- Gọi H là chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- Chiều cao của bệ cột cờ là
AB = 20,25 \text{ m}. - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:
- Gọi H là điểm dưới chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.
- AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:
- Gọi H là chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- Chiều cao của bệ cột cờ là
AB = 20,25 \text{ m}. - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:
- Gọi H là điểm dưới chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.
- AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:
- Gọi H là chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- Chiều cao của bệ cột cờ là
AB = 20,25 \text{ m}. - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Diễn giải lại dựa trên hình vẽ và cách giải gốc:
- Gọi H là điểm dưới chân núi.
- Gọi A là chân bệ cột cờ.
- Gọi B là đỉnh bệ cột cờ.
- AH là khoảng cách ngang từ chân bệ cột đến chân núi.
- AB là chiều cao của bệ cột cờ (
AB = 20,25 \text{ m}). - Góc nâng từ A đến H là
angle AHB = 45^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác AHB vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và AB là chiều cao. - Góc nâng từ B đến H là
angle BH A = 50^\circ. Điều này có nghĩa là tam giác BHA vuông tại A, với AH là khoảng cách ngang và BH là chiều cao từ B đến H.
Cách giải gốc sử dụng tam giác vuông:
Ngày chỉnh sửa nội dung mới nhất Tháng 1 15, 2026 by Thầy Đông

Thầy Đông – Giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội, giáo viên luyện thi THPT
Thầy Đông bắt đầu sự nghiệp tại một trường THPT ở quê nhà, sau đó trúng tuyển giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội nhờ chuyên môn vững và kinh nghiệm giảng dạy thực tế. Với nhiều năm đồng hành cùng học sinh, thầy được biết đến bởi phong cách giảng dạy rõ ràng, dễ hiểu và gần gũi. Hiện thầy giảng dạy tại dehocsinhgioi, tiếp tục truyền cảm hứng học tập cho học sinh cấp 3 thông qua các bài giảng súc tích, thực tiễn và giàu nhiệt huyết.
