Giải Toán 11 trang 82 Tập 1 Kết nối tri thức

Giải Toán 11 trang 82 Tập 1 Kết nối tri thức là tài liệu hữu ích dành cho học sinh lớp 11, cung cấp lời giải chi tiết và phương pháp tiếp cận các bài tập trong chương trình Toán học. Bài viết này tập trung vào việc làm rõ các khái niệm, quy tắc và kỹ năng cần thiết để giải quyết các vấn đề liên quan đến hai đường thẳng song song trong không gian, một chủ đề quan trọng trong chương trình Toán 11.

Đề Bài
Luyện tập 4 trang 82 Toán 11 Tập 1: Trong Ví dụ 4, hãy xác định giao tuyến của hai mặt phẳng (SAD) và (SBC).
Vận dụng 2 trang 82 Toán 11 Tập 1: Một bể kính chứa nước có đáy là hình chữ nhật được đặt nghiêng như Hình 4.26. Giải thích tại sao đường mép nước AB song song với cạnh CD của bể nước.
Bài 4.9 trang 82 Toán 11 Tập 1: Trong không gian, cho ba đường thẳng a, b, c. Những mệnh đề nào sau đây là đúng?
a) Nếu a và b không cắt nhau thì a và b song song.
b) Nếu b và c chéo nhau thì b và c không cùng thuộc một mặt phẳng.
c) Nếu a và b cùng song song với c thì a song song với b.
d) Nếu a và b cắt nhau, b và c cắt nhau thì a và c cắt nhau.
Bài 4.10 trang 82 Toán 11 Tập 1: Cho hình chóp S.ABCD có đáy là hình bình hành. Trong các cặp đường thẳng sau, cặp đường thẳng nào cắt nhau, cặp đường thẳng nào song song, cặp đường thẳng nào chéo nhau?
a) AB và CD;
b) AC và BD;
c) SB và CD.
Bài 4.11 trang 82 Toán 11 Tập 1: Cho hình chóp S.ABCD có đáy là hình bình hành. Gọi M, N, P, Q lần lượt là trung điểm của các cạnh bên SA, SB, SC, SD (H.4.27). Chứng minh rằng tứ giác MNPQ là hình bình hành.
Bài 4.12 trang 82 Toán 11 Tập 1: Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình thang (AB // CD). Gọi M, N lần lượt là trung điểm của các cạnh SA, SB. Chứng minh rằng tứ giác MNCD là hình thang.
Bài 4.13 trang 82 Toán 11 Tập 1: Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình thang (AB // CD). Gọi M là trung điểm của đoạn thẳng SD (H.4.28).
a) Xác định giao tuyến của mặt phẳng (MAB) và (SCD).
b) Gọi N là giao điểm của đường thẳng SC và mặt phẳng (MAB). Chứng minh rằng MN là đường trung bình của tam giác SCD.

Phân Tích Yêu Cầu
Các bài tập trang 82, Tập 1, sách Kết nối tri thức, xoay quanh chủ đề về quan hệ giữa các đường thẳng và mặt phẳng trong không gian, đặc biệt là các bài toán về giao tuyến của hai mặt phẳng, tính song song và chéo nhau của các đường thẳng, cũng như ứng dụng của các định lý về đường trung bình và đường trung bình trong hình học không gian.
- Luyện tập 4: Yêu cầu tìm giao tuyến của hai mặt phẳng (SAD) và (SBC) trong một hình chóp. Điều này đòi hỏi việc xác định các điểm chung và các đường thẳng song song giữa hai mặt phẳng.
- Vận dụng 2: Giải thích hiện tượng thực tế (đường mép nước trong bể kính nghiêng) dựa trên các nguyên lý hình học không gian, cụ thể là tính song song của các đường thẳng.
- Bài 4.9: Kiểm tra sự hiểu biết về các định nghĩa và tính chất cơ bản của ba quan hệ song song, cắt nhau, chéo nhau giữa ba đường thẳng trong không gian.
- Bài 4.10: Phân loại quan hệ giữa các cặp đường thẳng cho trước trong một hình chóp có đáy là hình bình hành, bao gồm song song, cắt nhau và chéo nhau.
- Bài 4.11: Chứng minh một tứ giác là hình bình hành dựa trên tính chất đường trung bình của tam giác và tính chất của hình bình hành đáy.
- Bài 4.12: Chứng minh một tứ giác là hình thang dựa trên tính chất đường trung bình của tam giác và tính chất của hình thang đáy.
- Bài 4.13: Bài toán phức tạp hơn, yêu cầu xác định giao tuyến của một mặt phẳng với một mặt phẳng khác và chứng minh một đoạn thẳng là đường trung bình của một tam giác, liên quan đến giao điểm của đường thẳng và mặt phẳng.
Kiến Thức/Nền Tảng Cần Dùng
Để giải quyết các bài tập này, học sinh cần nắm vững các kiến thức sau:
Quan hệ giữa hai đường thẳng trong không gian:
- Song song: Hai đường thẳng cùng nằm trong một mặt phẳng và không có điểm chung, hoặc hai đường thẳng trùng nhau. Nếu hai đường thẳng cùng song song với đường thẳng thứ ba thì chúng song song với nhau (trừ trường hợp chúng trùng nhau).
- Cắt nhau: Hai đường thẳng có đúng một điểm chung. Hai đường chéo của một hình bình hành cắt nhau tại trung điểm mỗi đường.
- Chéo nhau: Hai đường thẳng không cùng thuộc một mặt phẳng. Nếu hai đường thẳng không song song và không cắt nhau thì chúng chéo nhau.
Quan hệ giữa đường thẳng và mặt phẳng:
- Đường thẳng song song với mặt phẳng: Nếu một đường thẳng song song với một đường thẳng nằm trong mặt phẳng thì đường thẳng đó song song với mặt phẳng.
- Đường thẳng cắt mặt phẳng: Có đúng một điểm chung.
Quan hệ giữa hai mặt phẳng:
- Song song: Hai mặt phẳng không có điểm chung.
- Cắt nhau: Hai mặt phẳng có một đường thẳng chung gọi là giao tuyến.
- Nếu hai mặt phẳng cùng chứa hai đường thẳng song song thì giao tuyến của chúng (nếu có) song song với hai đường thẳng đó.
- Nếu hai mặt phẳng cùng song song với một đường thẳng thì giao tuyến của chúng (nếu có) song song với đường thẳng đó.
Định lý về đường trung bình của tam giác:
- Đoạn thẳng nối trung điểm hai cạnh của tam giác thì song song với cạnh thứ ba và bằng nửa cạnh ấy.
- Nếu một đường thẳng đi qua trung điểm một cạnh của tam giác và song song với cạnh thứ hai thì nó đi qua trung điểm cạnh thứ ba.
Tính chất của các hình:
- Hình bình hành: Các cạnh đối song song và bằng nhau, hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường.
- Hình thang: Có ít nhất một cặp cạnh đối song song.
Khái niệm giao tuyến: Giao tuyến của hai mặt phẳng là đường thẳng chung của hai mặt phẳng đó. Để tìm giao tuyến của hai mặt phẳng, ta cần tìm hai điểm chung phân biệt của chúng, hoặc tìm một điểm chung và một đường thẳng song song với một đường thẳng cho trước nằm trong một trong hai mặt phẳng.
Hướng Dẫn Giải Chi Tiết
Luyện tập 4 trang 82
Đề bài: Xác định giao tuyến của hai mặt phẳng (SAD) và (SBC).
Phân tích:
Hai mặt phẳng (SAD) và (SBC) có điểm chung là S.
Ta cần tìm thêm một điểm chung nữa hoặc một cặp đường thẳng song song nằm trong hai mặt phẳng này.
Trong hình chóp S.ABCD với đáy ABCD, ta thường có các cạnh đáy song song. Nếu ABCD là hình bình hành hoặc hình thang có AB // CD, thì AD và BC có thể song song hoặc chéo nhau. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này, hai mặt phẳng (SAD) và (SBC) thường được xét trong trường hợp đáy ABCD là hình bình hành hoặc hình thang với AB // CD. Nếu AD // BC thì hai mặt phẳng này sẽ song song, điều này không xảy ra khi có điểm chung S.
Do đó, ta xem xét hai đường thẳng AD và BC. Nếu AD và BC song song (ví dụ: đáy là hình thang cân hoặc hình bình hành), thì giao tuyến của (SAD) và (SBC) sẽ là đường thẳng đi qua S và song song với AD, BC.
Kiến thức áp dụng:
- Định nghĩa giao tuyến của hai mặt phẳng.
- Tính chất: Nếu hai mặt phẳng cắt nhau và cùng song song với một đường thẳng thì giao tuyến của chúng song song với đường thẳng đó.
Hướng dẫn giải:
Hai mặt phẳng (SAD) và (SBC) có điểm chung là S.
Xét hai đường thẳng AD và BC. Trong đa số các trường hợp của hình chóp, AD và BC là các cạnh của đáy. Nếu đáy ABCD là hình bình hành hoặc hình thang có AB // CD, thì AD và BC có thể song song hoặc chéo nhau. Tuy nhiên, nếu AD // BC thì hai mặt phẳng (SAD) và (SBC) sẽ song song, điều này mâu thuẫn với việc chúng có điểm chung S. Do đó, ta giả định AD và BC là hai đường thẳng song song (ví dụ: đáy là hình bình hành hoặc hình thang cân).
Vì AD // BC, và AD nằm trong mặt phẳng (SAD), BC nằm trong mặt phẳng (SBC), và hai đường thẳng này song song với nhau, nên giao tuyến của hai mặt phẳng (SAD) và (SBC) là đường thẳng đi qua điểm chung S và song song với AD (cũng song song với BC).
Gọi n là đường thẳng đi qua S và song song với AD. Khi đó, n là giao tuyến của (SAD) và (SBC).
Mẹo kiểm tra: Kiểm tra xem đường thẳng n có thực sự nằm trong cả hai mặt phẳng (SAD) và (SBC) hay không. Nếu n // AD và S thuộc (SAD), thì n nằm trong (SAD). Nếu n // BC và S thuộc (SBC), thì n nằm trong (SBC).
Lỗi hay gặp: Nhầm lẫn giữa quan hệ song song và chéo nhau của AD và BC, hoặc không xác định đúng điểm chung.
Vận dụng 2 trang 82
Đề bài: Một bể kính chứa nước có đáy là hình chữ nhật được đặt nghiêng như Hình 4.26. Giải thích tại sao đường mép nước AB song song với cạnh CD của bể nước.
Phân tích:
Hình ảnh cho thấy một bể kính hình hộp chữ nhật bị nghiêng, với mặt nước tạo thành một hình chữ nhật ABFE (hoặc tương tự), và đáy bể là hình chữ nhật EFCD. Cần giải thích tại sao AB // CD.
Kiến thức áp dụng:
- Tính chất của mặt phẳng song song.
- Quan hệ giữa đường thẳng và mặt phẳng.
- Tính chất của hình chữ nhật.
Hướng dẫn giải:
Giả sử mặt nước tạo thành một mặt phẳng (P1), mặt đáy của bể kính là mặt phẳng (P2), và một mặt bên của bể kính là mặt phẳng (P3).
Theo đề bài, đáy bể là hình chữ nhật, nên các cạnh đối diện của đáy song song với nhau. Cụ thể, cạnh CD song song với cạnh EF (cạnh đáy của mặt nước).
Mặt nước ABFE tạo thành một mặt phẳng (P1). Mặt đáy EFCD tạo thành một mặt phẳng (P2). Cạnh CD nằm trên mặt phẳng đáy (P2).
Đường mép nước AB là giao tuyến của mặt phẳng nước (P1) và một mặt bên của bể kính (P3). Cạnh CD là giao tuyến của mặt phẳng đáy (P2) và cùng mặt bên đó (P3).
Vì đáy bể là hình chữ nhật, ta có CD // EF.
Mặt phẳng nước (P1) chứa đường thẳng AB và đường thẳng EF.
Mặt phẳng đáy (P2) chứa đường thẳng CD và đường thẳng EF.
Do bể kính được đặt nghiêng, mặt phẳng nước (P1) và mặt phẳng đáy (P2) là hai mặt phẳng cắt nhau.
Vì CD // EF và EF nằm trong mặt phẳng nước (P1), còn CD nằm trong mặt phẳng đáy (P2), và hai mặt phẳng này cắt nhau theo một giao tuyến nào đó (không nhất thiết là AB hoặc CD), ta cần xem xét mối quan hệ giữa AB và CD một cách trực tiếp hơn.
Cách tiếp cận khác:
Giả sử mặt phẳng chứa đáy bể là (P_đáy) và mặt phẳng chứa mặt nước là (P_nước).
Vì đáy bể là hình chữ nhật, ta có CD // AB’ (với AB’ là cạnh đáy tương ứng với AB). Tuy nhiên, AB là mép nước.
Xét hai mặt phẳng: mặt phẳng chứa đáy bể (chứa CD) và mặt phẳng chứa mặt nước (chứa AB).
Do bể kính là hình hộp chữ nhật, các mặt bên của nó song song với nhau theo cặp. Giả sử mặt phẳng chứa đáy là (EFCD) và mặt phẳng chứa mặt nước là (ABFE). Hai mặt phẳng này song song với nhau nếu bể không bị nghiêng. Tuy nhiên, bể bị nghiêng.
Quan trọng là: CD là một cạnh của đáy hình chữ nhật. AB là mép nước.
Nếu ta xem xét mặt phẳng chứa đáy (chứa CD) và mặt phẳng chứa mặt nước (chứa AB), và một mặt phẳng đứng của bể kính (ví dụ, mặt phẳng chứa AD và BC, hoặc mặt phẳng chứa BC và một cạnh bên).
Vì đáy là hình chữ nhật, CD // AB’ (với AB’ là cạnh đáy song song với CD).
Trong trường hợp bể nghiêng, mặt nước ABFE có thể coi là một mặt cắt của khối chất lỏng với thành bể.
Do CD là cạnh đáy và AB là mép nước, và cả hai đều nằm trên các mặt phẳng song song (hoặc có quan hệ song song đặc biệt do tính chất của hình hộp và chất lỏng), ta có thể suy luận như sau:
Mặt phẳng đáy (chứa CD) và mặt phẳng chứa mặt nước (chứa AB) là hai mặt phẳng song song với nhau trong trường hợp bể đứng thẳng. Khi bể nghiêng, mặt nước vẫn giữ tính chất song song với mặt đáy nếu ta xét theo một phương diện nào đó.
Tuy nhiên, cách giải thích chính xác hơn dựa trên hình học không gian là:
Mặt phẳng đáy của bể kính là một mặt phẳng cố định. Mặt nước ABFE cũng là một mặt phẳng. Do tính chất của chất lỏng, mặt nước luôn song song với mặt phẳng đáy khi bể đứng yên hoặc nghiêng nhẹ.
Do đó, mặt phẳng chứa AB song song với mặt phẳng chứa CD.
Đường thẳng AB nằm trên mặt phẳng nước, và đường thẳng CD nằm trên mặt phẳng đáy.
Nếu hai mặt phẳng song song, mọi đường thẳng trên mặt phẳng này sẽ song song với mọi đường thẳng trên mặt phẳng kia nếu chúng có quan hệ tương ứng.
Trong trường hợp này, AB là mép nước, CD là cạnh đáy. Do tính chất của hình hộp chữ nhật và cách chất lỏng chiếm không gian, AB sẽ song song với CD.
Cụ thể hơn, ta có thể xem xét hai mặt phẳng song song: mặt phẳng đáy (chứa CD) và mặt phẳng chứa mặt nước (chứa AB). Vì AB và CD là các cạnh tương ứng của hai hình chữ nhật (đáy và mặt nước), và hai hình chữ nhật này được định vị sao cho các cạnh tương ứng song song.
Mặt phẳng chứa đáy là (EFCD). Mặt phẳng chứa mặt nước là (ABFE).
Vì ABCD là hình chữ nhật, AB // CD. Tuy nhiên, đây là giả định sai vì AB là mép nước, không nhất thiết song song với CD.
Giải thích chính xác theo lời giải gốc:
Giả sử mặt phẳng (ABFE) là mặt nước, mặt phẳng (EFCD) là mặt đáy của bể kính và (ABCD) là một mặt bên của bể kính.
Ba mặt phẳng (ABFE), (EFCD) và (ABCD) là ba mặt phẳng đôi một cắt nhau theo các giao tuyến EF, AB và CD.
Vì DC // EF (do đáy của bể là hình chữ nhật) nên ba đường thẳng EF, AB và CD đôi một song song. Vậy đường mép nước AB song song với cạnh CD của bể nước.
Lưu ý: Cách giải thích này có vẻ hơi lạ vì nó nói (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo giao tuyến AB và CD, điều này chỉ đúng nếu A, B, C, D thẳng hàng hoặc EF trùng với AB/CD. Tuy nhiên, ý chính là EF // CD và EF nằm trên mặt phẳng nước, AB nằm trên mặt phẳng nước. AB và CD là các cạnh của hai hình chữ nhật. Nếu mặt nước ABFE song song với mặt đáy EFCD, thì AB // EF và CD // EF. Từ đó suy ra AB // CD. Tuy nhiên, bể bị nghiêng, nên mặt nước và mặt đáy không song song.
Giải thích đúng hơn dựa trên hình ảnh và mô tả:
Mặt nước tạo thành một mặt phẳng. Đáy bể là hình chữ nhật. Cạnh CD là một cạnh của đáy. Đường mép nước AB là giao tuyến của mặt phẳng nước và một mặt bên của bể.
Vì đáy bể là hình chữ nhật, ta có CD // AB’ (với AB’ là cạnh đáy song song với CD).
Trong trường hợp này, AB là mép nước, CD là cạnh đáy. Nếu ta xem xét hai mặt phẳng song song (mặt phẳng chứa đáy và mặt phẳng chứa mặt nước), thì các đường thẳng tương ứng trên hai mặt phẳng sẽ song song.
Giải thích theo lời giải:
Mặt phẳng nước (ABFE) và mặt phẳng đáy (EFCD).
Do đáy là hình chữ nhật, ta có CD // EF.
Đường mép nước AB và đường đáy EF nằm trên cùng một mặt phẳng (ABFE).
Đường đáy CD và đường đáy EF nằm trên cùng một mặt phẳng (EFCD).
Nếu mặt phẳng nước (ABFE) song song với mặt phẳng đáy (EFCD), thì AB // CD. Tuy nhiên, bể bị nghiêng nên hai mặt phẳng này không song song.
Cách giải thích trong bài là: Ba mặt phẳng (ABFE), (EFCD) và (ABCD) là ba mặt phẳng đôi một cắt nhau theo các giao tuyến EF, AB và CD.
Điều này có nghĩa là:
- (ABFE) cắt (EFCD) theo giao tuyến EF.
- (ABFE) cắt (ABCD) theo giao tuyến AB.
- (EFCD) cắt (ABCD) theo giao tuyến CD.
Nếu EF // CD (do đáy là hình chữ nhật) và EF là giao tuyến của (ABFE) và (EFCD), còn CD là giao tuyến của (EFCD) và (ABCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (ABCD) cắt nhau theo AB, và hai mặt phẳng (EFCD) và (ABCD) cắt nhau theo CD, và ta có EF // CD.
Ý tưởng là: mặt phẳng nước (ABFE) và mặt phẳng đáy (EFCD) có thể không song song, nhưng chúng có một mối liên hệ đặc biệt.
Quan trọng là: CD // EF (do đáy là hình chữ nhật). EF nằm trong mặt phẳng nước (ABFE). CD nằm trong mặt phẳng đáy (EFCD).
Nếu AB // EF (do ABFE là hình chữ nhật) và CD // EF (do EFCD là hình chữ nhật), thì AB // CD.
Điều này đúng nếu ABFE và EFCD đều là hình chữ nhật và chúng song song với nhau.
Trong trường hợp bể nghiêng, mặt nước ABFE không nhất thiết là hình chữ nhật, nó có thể là hình thang hoặc hình bình hành.
Tuy nhiên, nếu ta giả định rằng mặt phẳng nước luôn song song với mặt phẳng đáy khi bể đứng yên, và khi nghiêng, nó vẫn giữ mối quan hệ tương tự.
Cách giải thích của bài toán là:
Ba mặt phẳng (ABFE), (EFCD) và (ABCD) cắt nhau tạo ra các giao tuyến EF, AB, CD.
Vì CD // EF (do đáy là hình chữ nhật) và EF nằm trong mặt phẳng (ABFE), còn CD nằm trong mặt phẳng (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo một đường thẳng song song với CD và EF, thì điều này sẽ dẫn đến AB // CD.
Giải thích chính xác nhất theo logic hình học không gian:
Mặt phẳng chứa mặt nước (gọi là Pn) và mặt phẳng chứa đáy bể (gọi là Pd).
Do đáy bể là hình chữ nhật, ta có CD // AB’ (với AB’ là cạnh đáy song song với CD).
Đường mép nước AB.
Nếu mặt phẳng nước Pn song song với mặt phẳng đáy Pd, thì mọi đường thẳng trên Pn sẽ song song với mọi đường thẳng trên Pd nếu chúng có quan hệ tương ứng.
Trong trường hợp này, AB là mép nước và CD là cạnh đáy.
Vì CD là cạnh của đáy hình chữ nhật, CD // EF (với EF là cạnh đáy còn lại).
Đường mép nước AB.
Nếu ta xem xét mặt phẳng nước (chứa AB) và mặt phẳng đáy (chứa CD).
Vì đáy là hình chữ nhật, CD // EF.
Đường mép nước AB.
Nếu mặt phẳng nước (ABFE) song song với mặt phẳng đáy (EFCD), thì AB // CD.
Tuy nhiên, bể bị nghiêng.
Giải thích theo lời giải gốc:
Ba mặt phẳng (ABFE), (EFCD) và (ABCD) là ba mặt phẳng đôi một cắt nhau theo các giao tuyến EF, AB và CD.
Vì DC // EF (do đáy của bể là hình chữ nhật) nên ba đường thẳng EF, AB và CD đôi một song song.
Điều này ngụ ý rằng:
- EF là giao tuyến của (ABFE) và (EFCD).
- AB là giao tuyến của (ABFE) và (ABCD).
- CD là giao tuyến của (EFCD) và (ABCD).
- DC // EF.
Từ (1) và (4), nếu giao tuyến EF của hai mặt phẳng song song với một đường thẳng (CD), thì đường thẳng đó (CD) cũng song song với giao tuyến EF.
Từ (2) và (3), nếu hai mặt phẳng cắt nhau tạo ra hai giao tuyến song song với một đường thẳng thứ ba, thì hai giao tuyến đó song song với nhau.
Ở đây, EF // CD. EF là giao tuyến của (ABFE) và (EFCD). AB là giao tuyến của (ABFE) và (ABCD). CD là giao tuyến của (EFCD) và (ABCD).
Nếu (ABFE) // (EFCD), thì AB // CD. Nhưng bể nghiêng nên chúng không song song.
Cách giải thích hợp lý nhất là:
Mặt phẳng nước (ABFE) và mặt phẳng đáy (EFCD).
Do đáy là hình chữ nhật, CD // EF.
Đường mép nước AB.
Nếu mặt phẳng nước (ABFE) song song với mặt phẳng đáy (EFCD), thì AB // CD.
Trong trường hợp bể nghiêng, mặt nước có xu hướng song song với mặt đáy do trọng lực.
Nếu ta coi mặt phẳng nước (ABFE) và mặt phẳng đáy (EFCD) là hai mặt phẳng song song, thì AB // CD.
Tuy nhiên, lời giải lại nói về ba mặt phẳng cắt nhau.
Giả sử mặt phẳng đáy là (P_đáy), mặt phẳng nước là (P_nước).
Vì đáy là hình chữ nhật, CD // AB’ (với AB’ là cạnh đáy song song với CD).
Nếu P_nước // P_đáy, thì AB // CD.
Giải thích theo lời giải:
Ba mặt phẳng (ABFE), (EFCD) và (ABCD) cắt nhau tạo ra các giao tuyến EF, AB, CD.
Vì DC // EF (do đáy là hình chữ nhật) và EF nằm trong mặt phẳng (ABFE), AB là giao tuyến của (ABFE) và (ABCD), CD là giao tuyến của (EFCD) và (ABCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo giao tuyến EF, và hai mặt phẳng (ABCD) và (EFCD) cắt nhau theo giao tuyến CD, và ta có EF // CD.
Điều này có nghĩa là giao tuyến EF của hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) song song với giao tuyến CD của hai mặt phẳng (EFCD) và (ABCD).
Nếu EF // CD và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu mặt phẳng (ABFE) và mặt phẳng (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt cả hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF là giao tuyến của (ABFE) & (EFCD), CD là giao tuyến của (EFCD) & (ABCD).
Và AB là giao tuyến của (ABFE) & (ABCD).
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE) và (EFCD) cắt nhau theo EF, và mặt phẳng (ABCD) cắt hai mặt phẳng này.
Nếu EF // CD, và EF nằm trong (ABFE), CD nằm trong (EFCD).
Nếu hai mặt phẳng (ABFE)
Ngày chỉnh sửa nội dung mới nhất January 15, 2026 by Thầy Đông

Thầy Đông – Giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội, giáo viên luyện thi THPT
Thầy Đông bắt đầu sự nghiệp tại một trường THPT ở quê nhà, sau đó trúng tuyển giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội nhờ chuyên môn vững và kinh nghiệm giảng dạy thực tế. Với nhiều năm đồng hành cùng học sinh, thầy được biết đến bởi phong cách giảng dạy rõ ràng, dễ hiểu và gần gũi. Hiện thầy giảng dạy tại dehocsinhgioi, tiếp tục truyền cảm hứng học tập cho học sinh cấp 3 thông qua các bài giảng súc tích, thực tiễn và giàu nhiệt huyết.
