Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 4 Trang 19, 20 (Tập 1 Sách Mới) – Kể Lời Nói, Ý Nghĩa Nhân Vật

Trong chương trình tiếng Việt lớp 4 trang 19 tập 1, học sinh sẽ được làm quen với các dạng bài tập về kể lại lời nói và ý nghĩa của nhân vật trong truyện. Bài viết này cung cấp lời giải chi tiết cho Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4, Tập 1, trang 19 và 20, tập trung vào chủ đề kể lại lời nói, ý nghĩa của nhân vật trong truyện “Người ăn xin”. Mục tiêu là giúp các em học sinh nắm vững kiến thức, hiểu sâu sắc nội dung bài học và rèn luyện kỹ năng diễn đạt.

Đề Bài
I. Nhận xét (trang 19)
Câu 1 (trang 19 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Tìm trong truyện Người ăn xin, viết lại :
a) Những câu ghi lại ý nghĩ của cậu bé
b) Câu ghi lại lời nói của cậu bé
Câu 2 (trang 19 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Lời nói và ý nghĩ của cậu bé nói lên điều gì về cậu ?
Câu 3 (trang 19 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Lời nói và ý nghĩ của ông lão ăn xin trong hai cách kể sau đây có gì khác nhau ?
a) – Cháu ơi, cảm ơn cháu ! Như vậy là cháu đã cho lão rồi. – Ông lão nói bằng giọng khản đặc.
b) Bằng giọng khản đặc, ông lão cảm ơn tôi và nói rằng như vậy là tôi đã cho ông rồi.
II. Luyện tập (trang 20)
Câu 1 (trang 20 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Hãy tô đậm lời dẫn trực tiếp, gạch một gạch dưới lời dẫn gián tiếp trong đoạn văn sau :
Ba cậu bé rủ nhau vào rừng. Vì mải chơi nên các cậu về khá muộn. Ba cậu bàn nhau xem nên nói thế nào để bố mẹ khỏi mắng. Cậu bé thứ nhất định nói dối là bị chó sói đuổi.
Cậu thứ hai bảo :
– Còn tớ, tớ sẽ nói là đang đi thì gặp ông ngoại.
– Theo tớ, tốt nhất là chúng mình nhận lỗi với bố mẹ. – Cậu thứ ba bàn.
Câu 2 (trang 20 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Chuyển lời dẫn gián tiếp trong đoạn văn sau thành lời dẫn trực tiếp :
Lời dẫn gián tiếp
Vua nhìn thấy những miếng trầu têm rất khéo bèn hỏi bà hàng nước xem trầu đó ai têm.
Bà lão bảo chính tay bà têm.
Vua gặng hỏi mãi, bà lão đành nói thật con gái bà têm.
Câu 3 (trang 20 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Chuyển lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn sau thành lời dẫn gián tiếp :
Lời dẫn trực tiếp
Bác thợ hỏi Hòe:
– Cháu có thích làm thợ xây không ?
Hòe đáp:
– Cháu thích lắm !

Phân Tích Yêu Cầu
Các bài tập trong phần này tập trung vào hai kỹ năng chính: nhận diện và phân biệt lời nói trực tiếp, lời nói gián tiếp, cũng như hiểu ý nghĩa đằng sau lời nói và suy nghĩ của nhân vật.
- Câu 1 và 2 (Phần Nhận xét): Yêu cầu học sinh đọc kỹ đoạn trích từ truyện “Người ăn xin” để trích xuất chính xác các câu văn thể hiện suy nghĩ và lời nói của cậu bé. Từ đó, phân tích và rút ra nhận xét về phẩm chất của nhân vật này.
- Câu 3 (Phần Nhận xét): Đưa ra hai cách kể khác nhau về lời nói của ông lão ăn xin, một là lời dẫn trực tiếp, một là lời dẫn gián tiếp. Học sinh cần so sánh để thấy sự khác biệt trong cách trình bày và tác động của mỗi cách.
- Câu 1 (Phần Luyện tập): Yêu cầu học sinh áp dụng kiến thức đã học để phân biệt lời dẫn trực tiếp (thường đi kèm dấu hai chấm, gạch đầu dòng) và lời dẫn gián tiếp (thuật lại ý chính) trong một đoạn văn cho sẵn.
- Câu 2 và 3 (Phần Luyện tập): Là bài tập chuyển đổi giữa hai hình thức dẫn lời, đòi hỏi học sinh phải hiểu rõ cấu trúc và quy tắc của từng loại.
Kiến Thức/Nền Tảng Cần Dùng
Để hoàn thành tốt các bài tập này, học sinh cần nắm vững các kiến thức sau:
- Lời nói trực tiếp: Là lời nói được giữ nguyên, không thay đổi, thường đặt trong dấu ngoặc kép hoặc sau dấu hai chấm và gạch đầu dòng.
- Ví dụ: Cô giáo nói: “Các em học bài thật chăm chỉ.”
- Lời nói gián tiếp: Là lời nói được thuật lại theo ý của người kể chuyện, thường thay đổi đại từ nhân xưng, động từ, trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn và không dùng dấu ngoặc kép hay gạch đầu dòng.
- Ví dụ: Cô giáo dặn chúng em học bài thật chăm chỉ.
- Phân biệt ý nghĩ và lời nói:
- Ý nghĩ: Là suy nghĩ thầm bên trong của nhân vật, thường được diễn đạt bằng các câu văn có cấu trúc như “Cậu bé nghĩ…”, “Trong lòng tôi…”, hoặc trực tiếp là những câu văn thể hiện nội tâm.
- Lời nói: Là những gì nhân vật phát ra thành tiếng, thường được đặt sau các động từ như “nói”, “hỏi”, “đáp”, “thưa”, “bảo”,…
- Nhận xét về nhân vật: Dựa vào lời nói, hành động, suy nghĩ của nhân vật để đánh giá phẩm chất, tính cách của họ (ví dụ: nhân hậu, dũng cảm, ích kỷ, tham lam…).
Hướng Dẫn Giải Chi Tiết
Phần I: Nhận xét (trang 19)
Câu 1 (trang 19 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Tìm trong truyện Người ăn xin, viết lại :
a) Những câu ghi lại ý nghĩ của cậu bé
b) Câu ghi lại lời nói của cậu bé
Phân tích:
Câu hỏi này yêu cầu chúng ta quay lại với câu chuyện “Người ăn xin” đã học và trích xuất chính xác các câu văn thể hiện suy nghĩ và lời nói của nhân vật cậu bé.
Hướng dẫn:
Đọc kỹ lại đoạn văn tả cảnh cậu bé gặp người ăn xin trong truyện “Người ăn xin”.
a) Những câu ghi lại ý nghĩ của cậu bé:
- “Chao ôi ! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào.”
- “Cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì của ông lão.”
b) Câu ghi lại lời nói của cậu bé:
- “Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả.”
Mẹo kiểm tra:
Hãy đảm bảo các câu trích ra đúng là của cậu bé và thể hiện đúng suy nghĩ (nội tâm) hoặc lời nói (phát ra thành tiếng).
Lỗi hay gặp:
Nhầm lẫn giữa lời nói và ý nghĩ, hoặc trích nhầm lời của nhân vật khác.
Câu 2 (trang 19 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Lời nói và ý nghĩ của cậu bé nói lên điều gì về cậu ?
Phân tích:
Sau khi trích xuất, chúng ta cần suy luận để nhận xét về phẩm chất của cậu bé dựa trên những gì cậu nghĩ và nói.
Hướng dẫn:
Xem lại các câu ý nghĩ và lời nói của cậu bé ở Câu 1.
- Ý nghĩ: “Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào.” -> Cậu bé nhận thức được sự khổ cực, đáng thương của ông lão.
- Ý nghĩ: “Cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì của ông lão.” -> Cậu bé cảm thấy mình cũng nhận được một điều gì đó quý giá từ ông lão, có thể là bài học về lòng trắc ẩn hoặc sự đồng cảm.
- Lời nói: “Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả.” -> Lời nói thể hiện sự bối rối, áy náy vì không giúp được gì cho ông lão.
Trả lời:
Lời nói và ý nghĩ của cậu bé cho thấy cậu bé là một người giàu lòng nhân ái, biết đồng cảm và chia sẻ với hoàn cảnh khó khăn của người khác. Cậu bé có một trái tim nhân hậu và biết suy nghĩ cho người xung quanh.
Mẹo kiểm tra:
Nhận xét phải dựa trên bằng chứng từ lời nói và ý nghĩ đã trích xuất.
Lỗi hay gặp:
Nhận xét chung chung, không bám sát vào nội dung bài.
Câu 3 (trang 19 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Lời nói và ý nghĩ của ông lão ăn xin trong hai cách kể sau đây có gì khác nhau ?
a) – Cháu ơi, cảm ơn cháu ! Như vậy là cháu đã cho lão rồi. – Ông lão nói bằng giọng khản đặc.
b) Bằng giọng khản đặc, ông lão cảm ơn tôi và nói rằng như vậy là tôi đã cho ông rồi.
Phân tích:
Đây là bài tập so sánh hai kiểu dẫn lời: trực tiếp và gián tiếp.
Hướng dẫn:
- Cách a): Lời nói của ông lão được đặt trong dấu gạch đầu dòng (hoặc có thể hiểu là dấu ngoặc kép nếu theo quy ước chung), đi kèm với động từ “nói” và miêu tả giọng điệu (“giọng khản đặc”). Đây là lời dẫn trực tiếp, giữ nguyên lời nói của nhân vật.
- Cách b): Lời nói của ông lão được thuật lại bởi người kể chuyện (nhân vật “tôi”). Các từ ngữ như “cảm ơn tôi”, “nói rằng” cho thấy đây là lời dẫn gián tiếp. Lời nói gốc có thể đã được thay đổi đôi chút về cấu trúc câu hoặc đại từ nhân xưng để phù hợp với lời kể.
Trả lời:
- Trong cách kể a), lời nói và ý nghĩ của ông lão được dẫn trực tiếp và nguyên văn, giữ nguyên giọng điệu và cảm xúc của nhân vật tại thời điểm nói.
- Trong cách kể b), lời nói và ý nghĩ của ông lão được thuật lại gián tiếp qua lời kể của nhân vật “tôi”. Cách này làm cho câu chuyện liền mạch hơn nhưng có thể làm mất đi một phần sắc thái biểu cảm ban đầu của lời nói.
Mẹo kiểm tra:
Nhận diện dấu hiệu của lời dẫn trực tiếp (dấu câu, động từ báo hiệu) và lời dẫn gián tiếp (động từ thuật lại, liên từ “rằng”, “là”,…).
Lỗi hay gặp:
Không phân biệt được hai kiểu dẫn lời hoặc mô tả sai sự khác biệt.
Phần II: Luyện tập (trang 20)
Câu 1 (trang 20 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Hãy tô đậm lời dẫn trực tiếp, gạch một gạch dưới lời dẫn gián tiếp trong đoạn văn sau :
Ba cậu bé rủ nhau vào rừng. Vì mải chơi nên các cậu về khá muộn. Ba cậu bàn nhau xem nên nói thế nào để bố mẹ khỏi mắng. Cậu bé thứ nhất định nói dối là bị chó sói đuổi.
Cậu thứ hai bảo :
– Còn tớ, tớ sẽ nói là đang đi thì gặp ông ngoại.
– Theo tớ, tốt nhất là chúng mình nhận lỗi với bố mẹ. – Cậu thứ ba bàn.
Phân tích:
Bài tập này yêu cầu áp dụng kiến thức để phân loại lời dẫn trong một đoạn văn cụ thể.
Hướng dẫn:
- Lời dẫn trực tiếp: Là những câu được đặt sau dấu hai chấm (:) hoặc dấu gạch ngang (-) đứng đầu dòng, thể hiện đúng lời nói của nhân vật.
- Lời dẫn gián tiếp: Là những câu được thuật lại ý của nhân vật, thường không dùng dấu câu đặc biệt như trên và có thể có các từ nối như “là”, “rằng”.
Trả lời:
Ba cậu bé rủ nhau vào rừng. Vì mải chơi nên các cậu về khá muộn. Ba cậu bàn nhau xem nên nói thế nào để bố mẹ khỏi mắng. Cậu bé thứ nhất định nói dối là bị chó sói đuổi.
Cậu thứ hai bảo :
– Còn tớ, tớ sẽ nói là đang đi thì gặp ông ngoại. (Đây là lời dẫn trực tiếp)
– Theo tớ, tốt nhất là chúng mình nhận lỗi với bố mẹ. – Cậu thứ ba bàn. (Đây là lời dẫn trực tiếp)
Lưu ý: Trong đoạn văn này, không có lời dẫn gián tiếp rõ ràng được gạch chân theo yêu cầu. Các câu “Cậu bé thứ nhất định nói dối là bị chó sói đuổi.”, “Cậu thứ hai bảo :”, “Cậu thứ ba bàn.” là lời dẫn giới thiệu lời nói trực tiếp.
Mẹo kiểm tra:
Kiểm tra dấu hai chấm, dấu gạch đầu dòng và cách trình bày của câu văn.
Lỗi hay gặp:
Nhầm lẫn giữa lời giới thiệu và lời dẫn, hoặc không nhận ra lời dẫn trực tiếp khi nó không nằm trong ngoặc kép.
Câu 2 (trang 20 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Chuyển lời dẫn gián tiếp trong đoạn văn sau thành lời dẫn trực tiếp :
Lời dẫn gián tiếp
Vua nhìn thấy những miếng trầu têm rất khéo bèn hỏi bà hàng nước xem trầu đó ai têm.
Bà lão bảo chính tay bà têm.
Vua gặng hỏi mãi, bà lão đành nói thật con gái bà têm.
Phân tích:
Bài tập này yêu cầu chuyển đổi từ lời kể gián tiếp sang lời kể trực tiếp, đòi hỏi sự hiểu biết về cấu trúc và cách dùng dấu câu.
Hướng dẫn:
Để chuyển lời dẫn gián tiếp thành trực tiếp, chúng ta cần:
- Xác định lời nói của nhân vật.
- Thêm dấu hai chấm (:) hoặc dấu phẩy (,) sau động từ báo hiệu (hỏi, bảo, nói,…).
- Đặt lời nói của nhân vật vào trong dấu ngoặc kép (“…”) hoặc dùng gạch đầu dòng (-) nếu đó là lời đối thoại.
- Điều chỉnh đại từ nhân xưng và các từ ngữ khác cho phù hợp với lời nói trực tiếp.
Trả lời:
Lời dẫn trực tiếp
Vua nhìn thấy những miếng trầu têm rất khéo hỏi bà hàng nước:
– Trầu này ai têm, bà lão?
Bà lão đáp:
– Tâu bệ hạ, trầu do chính tay già têm đấy ạ.
Nhà vua gặng hỏi mãi, bà lão đành thật thà nói:
– Thưa, trầu do con gái già têm.
Mẹo kiểm tra:
Đọc lại đoạn văn đã chuyển đổi, xem lời nói có tự nhiên và đúng với tình huống không.
Lỗi hay gặp:
Quên dấu hai chấm, dấu ngoặc kép/gạch đầu dòng, hoặc không thay đổi đại từ nhân xưng (“bà lão” thành “già”, “con gái bà” thành “con gái già”).
Câu 3 (trang 20 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 Tập 1): Chuyển lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn sau thành lời dẫn gián tiếp :
Lời dẫn trực tiếp
Bác thợ hỏi Hòe:
– Cháu có thích làm thợ xây không ?
Hòe đáp:
– Cháu thích lắm !
Phân tích:
Đây là bài tập ngược lại với câu trên, chuyển từ lời dẫn trực tiếp sang gián tiếp.
Hướng dẫn:
Để chuyển lời dẫn trực tiếp thành gián tiếp, chúng ta cần:
- Bỏ dấu hai chấm và dấu ngoặc kép (hoặc gạch đầu dòng).
- Thêm các từ nối như “rằng”, “là”, “để”, “với”,… tùy theo ngữ cảnh.
- Thay đổi đại từ nhân xưng cho phù hợp với ngôi kể (ví dụ: “cháu” có thể thành “bạn ấy”, “Hòe”, hoặc “cậu bé” tùy theo người kể).
- Thay đổi động từ, trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn nếu cần thiết.
Trả lời:
Lời dẫn gián tiếp
Bác thợ hỏi Hòe có thích làm thợ xây không.
Hòe đáp rằng mình rất thích.
Hoặc:
Bác thợ hỏi Hòe rằng cậu bé có thích làm thợ xây không.
Hòe đáp lại rằng cậu bé thích lắm.
Mẹo kiểm tra:
Đọc lại đoạn văn, đảm bảo ý nghĩa không thay đổi và câu văn mạch lạc, tự nhiên theo lời kể gián tiếp.
Lỗi hay gặp:
Giữ nguyên dấu câu của lời dẫn trực tiếp, quên thêm từ nối, hoặc thay đổi đại từ nhân xưng không phù hợp.
Đáp Án/Kết Quả
Phần I: Nhận xét (trang 19)
- Câu 1:
- a) Ý nghĩ của cậu bé: “Chao ôi ! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào.”, “Cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì của ông lão.”
- b) Lời nói của cậu bé: “Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả.”
- Câu 2: Lời nói và ý nghĩ của cậu bé cho thấy cậu là người nhân hậu, giàu tình thương và biết đồng cảm với người khác.
- Câu 3: Cách a) là lời dẫn trực tiếp, giữ nguyên lời nói. Cách b) là lời dẫn gián tiếp, thuật lại lời nói.
Phần II: Luyện tập (trang 20)
- Câu 1: Lời dẫn trực tiếp được tô đậm:
- – Còn tớ, tớ sẽ nói là đang đi thì gặp ông ngoại.
- – Theo tớ, tốt nhất là chúng mình nhận lỗi với bố mẹ.
- Câu 2: Chuyển lời dẫn gián tiếp sang trực tiếp:
Vua hỏi bà hàng nước: “- Trầu này ai têm, bà lão?”
Bà lão đáp: “- Tâu bệ hạ, trầu do chính tay già têm đấy ạ.”
Bà lão nói: “- Thưa, trầu do con gái già têm.” - Câu 3: Chuyển lời dẫn trực tiếp sang gián tiếp:
Bác thợ hỏi Hòe có thích làm thợ xây không. Hòe đáp rằng mình rất thích.
Kết Luận
Việc nắm vững cách phân biệt và sử dụng lời nói trực tiếp, lời nói gián tiếp là kỹ năng quan trọng trong môn Tiếng Việt lớp 4. Qua các bài tập trên tiếng Việt lớp 4 trang 19 tập 1, học sinh không chỉ rèn luyện được khả năng diễn đạt mà còn hiểu sâu sắc hơn về cách xây dựng nhân vật và thể hiện cảm xúc qua lời văn. Bài viết này hy vọng đã cung cấp một hướng dẫn chi tiết và hữu ích, giúp các em tự tin hơn trong học tập.
Ngày chỉnh sửa nội dung mới nhất January 15, 2026 by Thầy Đông

Thầy Đông – Giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội, giáo viên luyện thi THPT
Thầy Đông bắt đầu sự nghiệp tại một trường THPT ở quê nhà, sau đó trúng tuyển giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội nhờ chuyên môn vững và kinh nghiệm giảng dạy thực tế. Với nhiều năm đồng hành cùng học sinh, thầy được biết đến bởi phong cách giảng dạy rõ ràng, dễ hiểu và gần gũi. Hiện thầy giảng dạy tại dehocsinhgioi, tiếp tục truyền cảm hứng học tập cho học sinh cấp 3 thông qua các bài giảng súc tích, thực tiễn và giàu nhiệt huyết.
