Giải Toán Lớp 5 Trang 19, 20 Sách Mới: Ôn Tập Và Bổ Sung Về Giải Toán

Khi bước vào giai đoạn cuối cấp Tiểu học, việc nắm vững các dạng toán và phương pháp giải là vô cùng quan trọng. Trang 19 và 20 trong sách Toán lớp 5, đặc biệt là với các bộ sách giáo khoa mới như Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo và Cánh diều, thường tập trung vào việc củng cố và nâng cao kỹ năng giải các bài toán có lời văn. Bài viết này sẽ cung cấp giải toán lớp 5 trang 19 20 chi tiết, giúp học sinh hiểu sâu bản chất, nắm vững cách trình bày và tự tin chinh phục các dạng toán. Chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào từng bài tập, phân tích yêu cầu, áp dụng kiến thức nền tảng và trình bày lời giải một cách logic, dễ hiểu nhất.

Đề Bài
Bài 1: Mua 12 quyển vở hết 24 000 đồng. Hỏi mua 30 quyển vở như thế hết bao nhiêu tiền?
Bài 2: Bạn Hà mua hai tá bút chì hết 30 000 đồng. Hỏi bạn Mai muốn mua 8 cái bút chì như thế thì phải trả người bán hàng bao nhiêu tiền?
Bài 3: Một trường tổ chức cho học sinh đi tham quan di tích lịch sử. Đợt thứ nhất cần có 3 xe ô tô để chở 120 học sinh. Hỏi đợt thứ hai muốn chở 160 học sinh đi tham quan thì cần dùng mấy xe ô tô như thế nào?
Bài 4: Một người làm công trong hai ngày được trả 72 000 đồng. Hỏi với mức trả lương như thế, nếu làm trong 5 ngày thì người đó được trả bao nhiêu tiền?

Phân Tích Yêu Cầu
Các bài tập trên trang 19 và 20 lớp 5 chủ yếu thuộc dạng toán “Tỉ lệ thuận”, yêu cầu học sinh vận dụng phương pháp giải toán quen thuộc như “Rút về đơn vị” hoặc “Tìm tỉ số” để tìm ra kết quả cuối cùng.
- Bài 1 & 4: Đều cho biết thông tin về số lượng/thời gian và số tiền tương ứng, yêu cầu tìm số tiền cho một số lượng/thời gian khác. Đây là các bài toán cơ bản về tỉ lệ thuận, đòi hỏi tìm giá trị của một đơn vị (quyển vở hoặc ngày công) rồi từ đó suy ra giá trị cho số lượng/thời gian cần tìm.
- Bài 2: Tương tự như Bài 1, nhưng có thêm bước đổi đơn vị (tá sang cái). Sau khi đổi đơn vị, bài toán trở về dạng tìm giá cho một đơn vị và suy ra.
- Bài 3: Bài toán về tỉ lệ thuận liên quan đến số lượng người và số phương tiện. Yêu cầu tìm hiểu năng lực chở của một phương tiện (1 xe chở bao nhiêu học sinh) để từ đó tính số phương tiện cần thiết cho số lượng học sinh lớn hơn.
Nhìn chung, mục tiêu của các bài toán này là giúp học sinh củng cố và làm quen với việc áp dụng các quy tắc toán học để giải quyết các tình huống thực tế liên quan đến mối quan hệ tỉ lệ.
Kiến Thức/Nền Tảng Cần Dùng
Để giải quyết các bài toán này, học sinh cần nắm vững các kiến thức sau:
Đổi đơn vị:
- 1 tá = 12 cái
- Biết cách đổi từ đơn vị này sang đơn vị khác khi cần thiết (ví dụ: tá sang cái).
Phương pháp “Rút về đơn vị”:
Đây là phương pháp phổ biến và dễ hiểu nhất cho dạng toán tỉ lệ thuận. Các bước thực hiện bao gồm:- Bước 1: Tìm giá trị của một đơn vị (ví dụ: tìm số tiền mua 1 quyển vở, tìm số học sinh 1 xe chở được, tìm số tiền làm trong 1 ngày). Công thức: Giá trị 1 đơn vị = Tổng giá trị / Số đơn vị.
- Bước 2: Tìm giá trị cho số lượng đơn vị cần tìm. Công thức: Giá trị cần tìm = Giá trị 1 đơn vị × Số đơn vị cần tìm.
Phương pháp “Tìm tỉ số”:
Phương pháp này hữu ích khi cần so sánh hai đại lượng. Các bước thực hiện:- Bước 1: Tìm tỉ số giữa số lượng đơn vị cần tìm và số lượng đơn vị đã biết. Công thức: Tỉ số = Số đơn vị cần tìm / Số đơn vị đã biết.
- Bước 2: Nhân số tiền/số lượng tương ứng với tỉ số vừa tìm được. Công thức: Giá trị cần tìm = Giá trị đã biết × Tỉ số.
Khái niệm Tỉ lệ thuận: Hai đại lượng được gọi là tỉ lệ thuận nếu khi đại lượng này tăng (hoặc giảm) bao nhiêu lần thì đại lượng kia cũng tăng (hoặc giảm) bấy nhiêu lần.
Chúng ta sẽ áp dụng những kiến thức này để giải chi tiết từng bài tập.
Hướng Dẫn Giải Chi Tiết
Bài 1: Mua 12 quyển vở hết 24 000 đồng. Hỏi mua 30 quyển vở như thế hết bao nhiêu tiền?
Tóm tắt:
12 quyển vở: 24 000 đồng
30 quyển vở: … đồng ?Phân tích: Bài toán cho biết số tiền mua 12 quyển vở và hỏi số tiền mua 30 quyển vở. Số lượng vở và số tiền là hai đại lượng tỉ lệ thuận: càng mua nhiều vở thì số tiền phải trả càng lớn.
Cách 1: Rút về đơn vị
Bước 1: Tìm số tiền mua 1 quyển vở.
Ta lấy tổng số tiền chia cho số quyển vở đã mua:
24000 div 12 = 2000 (đồng)
Vậy, mua 1 quyển vở hết 2 000 đồng.Bước 2: Tìm số tiền mua 30 quyển vở.
Ta lấy số tiền mua 1 quyển vở nhân với số quyển vở cần mua:
2000 \times 30 = 60000 (đồng)
Vậy, mua 30 quyển vở hết 60 000 đồng.
Cách 2: Tìm tỉ số
Bước 1: Tìm tỉ số giữa số quyển vở cần mua và số quyển vở đã biết.
Tỉ số là:
30 div 12 = 2.5
Nghĩa là, cần mua 30 quyển vở gấp 2.5 lần số vở đã mua (12 quyển).Bước 2: Tìm số tiền cho 30 quyển vở.
Ta lấy số tiền mua 12 quyển vở nhân với tỉ số vừa tìm được:
24000 \times 2.5 = 60000 (đồng)
Vậy, mua 30 quyển vở hết 60 000 đồng.
Mẹo kiểm tra: Số tiền mua 30 quyển phải lớn hơn nhiều so với 12 quyển. 30 quyển gấp hơn 2 lần 12 quyển, vậy số tiền cũng phải gấp hơn 2 lần (24000 x 2 = 48000). Kết quả 60000 đồng là hợp lý.
Lỗi hay gặp:
- Nhầm lẫn giữa phép nhân và phép chia.
- Tính toán sai trong phép nhân, chia, hoặc đổi đơn vị (nếu có).
- Không ghi rõ đơn vị cho kết quả.
Bài 2: Bạn Hà mua hai tá bút chì hết 30 000 đồng. Hỏi bạn Mai muốn mua 8 cái bút chì như thế thì phải trả người bán hàng bao nhiêu tiền?
Tóm tắt:
2 tá bút chì: 30 000 đồng
8 cái bút chì: ? đồngPhân tích: Bài toán này yêu cầu tìm số tiền cho 8 cái bút chì khi biết số tiền cho 2 tá bút chì. Trước hết, cần đổi đơn vị “tá” sang “cái” để có cùng đơn vị đo lường.
Bước 1: Đổi đơn vị
Ta biết: 1 tá = 12 cái
Vậy, 2 tá bút chì có số cái là:
12 \times 2 = 24 (cái)
Số tiền 30 000 đồng là để mua 24 cái bút chì.Cách 1: Rút về đơn vị
Bước 2a: Tìm số tiền mua 1 cái bút chì.
30000 div 24 = 1250 (đồng)
Vậy, 1 cái bút chì hết 1 250 đồng.Bước 3a: Tìm số tiền mua 8 cái bút chì.
1250 \times 8 = 10000 (đồng)
Vậy, mua 8 cái bút chì hết 10 000 đồng.
Cách 2: Tìm tỉ số
Bước 2b: Tìm tỉ số giữa số cái bút chì Mai muốn mua và số cái bút chì Hà đã mua.
Tỉ số là:
8 div 24 = \frac{1}{3}
Nghĩa là, Mai muốn mua số bút chì bằng \frac{1}{3} số bút chì Hà đã mua.Bước 3b: Tìm số tiền cho 8 cái bút chì.
Ta lấy số tiền Hà đã trả nhân với tỉ số vừa tìm được:
30000 \times \frac{1}{3} = 10000 (đồng)
Vậy, mua 8 cái bút chì hết 10 000 đồng.
Mẹo kiểm tra: 8 cái bút chì ít hơn 24 cái. Tỉ lệ là 8/24 = 1/3. Số tiền phải trả sẽ ít hơn 30000 đồng, cụ thể là 30000 / 3 = 10000 đồng. Kết quả này hợp lý.
Lỗi hay gặp:
- Quên đổi đơn vị từ “tá” sang “cái”.
- Sai sót trong phép chia hoặc nhân.
- Nhầm lẫn giữa “đơn vị” (1 cái) và “tỉ số”.
Bài 3: Một trường tổ chức cho học sinh đi tham quan di tích lịch sử. Đợt thứ nhất cần có 3 xe ô tô để chở 120 học sinh. Hỏi đợt thứ hai muốn chở 160 học sinh đi tham quan thì cần dùng mấy xe ô tô như thế nào?
Tóm tắt:
120 học sinh: 3 ô tô
160 học sinh: … ô tô ?Phân tích: Bài toán này xem xét mối quan hệ giữa số lượng học sinh và số lượng xe ô tô cần thiết. Giả định mỗi xe có sức chứa như nhau, đây là bài toán tỉ lệ thuận: càng nhiều học sinh thì càng cần nhiều xe.
Cách 1: Rút về đơn vị (tìm sức chứa 1 xe)
Bước 1: Tìm số học sinh mà 1 xe ô tô chở được.
Ta lấy tổng số học sinh chia cho số xe đã dùng:
120 div 3 = 40 (học sinh)
Vậy, mỗi xe ô tô chở được 40 học sinh.Bước 2: Tìm số xe ô tô cần dùng để chở 160 học sinh.
Ta lấy tổng số học sinh cần chở chia cho sức chứa của 1 xe:
160 div 40 = 4 (xe ô tô)
Vậy, cần dùng 4 xe ô tô.
Cách 2: Tìm tỉ số (so sánh số học sinh)
Bước 1: Tìm tỉ số giữa số học sinh cần chở đợt hai và số học sinh đợt một.
Tỉ số là:
160 div 120 = \frac{160}{120} = \frac{4}{3}
Nghĩa là, đợt hai cần chở số học sinh gấp \frac{4}{3} lần đợt một.Bước 2: Tìm số xe ô tô cần dùng.
Do số lượng học sinh và số lượng xe tỉ lệ thuận, ta lấy số xe đợt một nhân với tỉ số vừa tìm được:
3 \times \frac{4}{3} = 4 (xe ô tô)
Vậy, cần dùng 4 xe ô tô.
Mẹo kiểm tra: 160 học sinh nhiều hơn 120 học sinh. Số xe cần dùng cũng phải nhiều hơn 3 xe. Tỉ lệ 160/120 = 4/3. Vậy số xe cần là 3 (4/3) = 4 xe. Kết quả này hợp lý.
Lỗi hay gặp:
- Không xác định đúng mối quan hệ tỉ lệ thuận.
- Tính toán sai ở bước tìm sức chứa 1 xe hoặc tìm tỉ số.
- Nhầm lẫn giữa số học sinh và số xe.
Bài 4: Một người làm công trong hai ngày được trả 72 000 đồng. Hỏi với mức trả lương như thế, nếu làm trong 5 ngày thì người đó được trả bao nhiêu tiền?
Tóm tắt:
2 ngày: 72 000 đồng
5 ngày: ? đồngPhân tích: Bài toán cho biết tiền lương theo ngày và yêu cầu tính tiền lương cho một số ngày khác. Đây là bài toán tỉ lệ thuận: làm nhiều ngày hơn thì nhận được nhiều tiền hơn.
Cách 1: Rút về đơn vị (tìm lương 1 ngày)
Bước 1: Tính số tiền công trong 1 ngày.
Ta lấy tổng số tiền được trả chia cho số ngày làm:
72000 div 2 = 36000 (đồng)
Vậy, người đó làm 1 ngày được trả 36 000 đồng.Bước 2: Tính số tiền công trong 5 ngày.
Ta lấy số tiền công trong 1 ngày nhân với số ngày cần tính:
36000 \times 5 = 180000 (đồng)
Vậy, làm 5 ngày thì người đó được trả 180 000 đồng.
Cách 2: Tìm tỉ số
Bước 1: Tìm tỉ số giữa số ngày cần tính và số ngày đã biết.
Tỉ số là:
5 div 2 = 2.5
Nghĩa là, cần làm 5 ngày gấp 2.5 lần số ngày đã làm (2 ngày).Bước 2: Tìm số tiền cho 5 ngày.
Ta lấy số tiền làm trong 2 ngày nhân với tỉ số vừa tìm được:
72000 \times 2.5 = 180000 (đồng)
Vậy, làm 5 ngày thì người đó được trả 180 000 đồng.
Mẹo kiểm tra: 5 ngày nhiều hơn 2 ngày, nên số tiền nhận được phải nhiều hơn 72 000 đồng. 5 ngày gấp 2.5 lần 2 ngày, vậy tiền lương cũng phải gấp 2.5 lần (72000 x 2.5 = 180000). Kết quả này hợp lý.
Lỗi hay gặp:
- Tính toán sai trong các phép toán cơ bản.
- Nhầm lẫn giữa số ngày và số tiền.
- Không xác định đúng mối quan hệ tỉ lệ.
Đáp Án/Kết Quả
- Bài 1: Mua 30 quyển vở hết 60 000 đồng.
- Bài 2: Bạn Mai muốn mua 8 cái bút chì thì phải trả người bán hàng 10 000 đồng.
- Bài 3: Đợt thứ hai muốn chở 160 học sinh đi tham quan thì cần dùng 4 xe ô tô.
- Bài 4: Nếu làm trong 5 ngày thì người đó được trả 180 000 đồng.
Việc luyện tập thường xuyên các dạng toán như giải toán lớp 5 trang 19 20 sẽ giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Hãy luôn ghi nhớ các bước giải và áp dụng linh hoạt các phương pháp để tìm ra lời giải chính xác nhất.
Ngày chỉnh sửa nội dung mới nhất January 8, 2026 by Thầy Đông

Thầy Đông – Giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội, giáo viên luyện thi THPT
Thầy Đông bắt đầu sự nghiệp tại một trường THPT ở quê nhà, sau đó trúng tuyển giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội nhờ chuyên môn vững và kinh nghiệm giảng dạy thực tế. Với nhiều năm đồng hành cùng học sinh, thầy được biết đến bởi phong cách giảng dạy rõ ràng, dễ hiểu và gần gũi. Hiện thầy giảng dạy tại dehocsinhgioi, tiếp tục truyền cảm hứng học tập cho học sinh cấp 3 thông qua các bài giảng súc tích, thực tiễn và giàu nhiệt huyết.
